Luật sử phạt sử dụng phần mềm không bản quyền đối với doanh nghiệp

Luật sử phạt sử dụng phần mềm không bản quyền đối với doanh nghiệp

Quy định mới của Luật hình sự Doanh nghiệp sử dụng phần mềm không bản quyền phạt tới 1 tỷ đồng, đình chỉ hoạt động, phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm…

Theo bộ luật hình sự số 100/2015/HQ13 sử đổi bổ xung ngày 20/06/2017. Kể từ ngày 1/1/2018,  doanh nghiệp sử dụng phần mềm máy tính bất hợp pháp sẽ bị phạt tiền lên đến 1 đồng tùy theo mức độ xâm phạm, lợi nhuận thu được từ việc xâm phạm và thiệt hại gây ra, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm, phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

Ngoài ra, doanh chủ phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 – 5 năm. Doanh nghiệp vi phạm có thể bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 2 năm, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 1 năm đến 3 năm tùy theo mức độ.

Luật Hình sự đặt khung chế tài nặng như vậy nhưng theo thông tin từ Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trong năm 2017, đoàn thành tra liên ngành đã tiến hành thanh tra 63 doanh nghiệp, xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1,56 tỷ đồng. So với, con số phạt vi phạm bản quyền phần mềm năm 2015 là 2,5 tỷ đồng thì số vi phạm đã giảm nhưng thực trạng vi phạm bản quyền phần mềm máy tính hiện nay vẫn rất nghiêm trọng và phổ biến với nhiều hình thức và mức độ khác nhau.

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan yêu cầu Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (MOCST) tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật.

Thư của bộ văn hóa, thể thao và du lịch đến lãnh đạo của các doanh nghiệp

Thông tin trên được đưa ra tại buổi Tọa đàm Doanh nghiệp Việt Nam và vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Bộ luật hình sự diễn ra ngày 18/4 tại Hà Nội. Theo ông Trần Văn Minh, Phó Chánh Thanh tra Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, về thanh tra bản quyền phần mềm năm 2017, đơn vị này đã thực hiện quyết định thanh tra 63 doanh nghiệp, kiểm tra 2.472 máy tính, trong đó có 54 doanh nghiệp có hành vi sao chép chương trình phần mềm máy tính mà không được phép của chủ sở hữu, xử lý vi phạm hành chính là 1,65 tỷ đồng.

Riêng đầu năm 2018, thanh tra tiếp tục tiến hành kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về quyền tác giả đối với chương trình phần mềm máy tính tại 26 đoanh nghiệp, xử phạt vi phạm hành chính 750 triệu đồng. “Điều 225 Bộ Luật Hình sự sửa đổi đã thể hiện quyết tâm của Chính phủ nhằm chống lại tình trạng vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong đó có bản quyền phần mềm máy tính.

Với những hình phạt nghiêm khắc được qui định trong Bộ Luật hình sự sửa đổi này đã có hiệu lực, tôi cho rằng đã đến lúc các lãnh đạo doanh nghiệp cần phải gấp rút rà soát lại tình hình sử dụng phần mềm tại doanh nghiệp mình và có hành động kịp thời, để tránh những tổn thất nặng nề về uy tín, tài chính cũng như ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp,” ông Minh nói. Ông cũng kỳ vọng với quy định mới, tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm của Việt Nam sẽ giảm xuống, tạo môi trường kinh doanh cạnh tranh công bằng cho các doanh nghiệp, cũng như thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế xã hội trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới.

Trong khi đó, ông Gary Gan, Giám đốc Chương trình Tuân thủ khu vực châu Á-Thái Bình Dương của Liên minh phần mềm BSA thì cho rằng, ngoài vi phạm bản quyền, việc sử dụng phần mềm bất hợp pháp, không bản quyền còn gây ra những hệ lụy to lớn khi hacker ngày càng gia tăng những cuộc tấn công mạnh mẽ. Trong khi đó, các phần mềm lậu không được hỗ trợ từ hãng để cập nhật bản vá kịp thời./.

Một số chế tài xử lý vi phạm sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam và TPP

Điều 225. Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan

1. Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi sau đây, xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:
a) Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình;
b) Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;
d) Gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan 500.000.000 đồng trở lên;
đ) Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Pháp nhân thương mạiphạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Pháp nhân thương mại thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;
c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm

Điều 226. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
1. Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam, thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;
d) Gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý 500.000.000 đồng trở lên;
đ) Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Pháp nhân thương mại thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;
c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Như vậy là 2 quy định trên đã có điểm mới là đã quy định rõ khung giá trị vi phạm để áp dụng hình phạt và đã áp dụng chế tài hình sự cho pháp nhân với hình thức phạt tiền và đình chỉ hoạt động kinh doanh từ 6 tháng đến 2 năm.

Mức xử phạt tối đa cho hành vi này đối với cá nhân là phạt tù tới 3 năm.

> MUA PHẦN MỀM BẢN QUYỀN CHI PHÍ THẤP TẠI ĐÂY <

Quý khách cần tư vấn mua phần mềm bản quyền vui lòng liên hệ +84(0) 968 023 855.
Hoặc gửi email tới sales@4ctech.vn để được hỗ trợ nhanh nhất.